Đầu tháng
9/1972, trở về Đông Lỗ từ đợt đi đắp đê ở Quế Ổ, Chi Lăng, Quế Võ, Hà Bắc, 5 đứa
chúng tôi nhận được giấy báo khám tuyển quân đợt 2 năm 1972: Hải “rù”. Quát “điên”,
Thắng “đen”, Thành “tư bản” và tôi, Ninh con. Hai đợt trước (tháng 9/71 và
tháng 5/72), lớp 80 người đi đã vãn; chỉ còn lại rặt con gái, một số đối tượng
chính sách và một số khác vì những lý do khác nhau thuộc diện không đủ sức chiến
đấu…
Lên
đường – hướng đến là mặt trận
Nhớ đợt
tuyển quân tháng 9/1971,
Thắng đen đã từng
triệu tập nhập ngũ.
Khi tập trung quân
tại Yên Sở và kiểm tra lại sức khỏe, Thắng bị trả về. Đợt đó, tôi bị viêm Amidan mãn nên bị loại ngay từ vòng gửi xe, vì sợ lỡ đi phục kích mà nó lên cơn ho
như cóc thì… thôi rồi. Đấy là chưa kể cân nặng khi ấy tròm trèm 39kg. Ngay sau
đó, cô Sứ (y sĩ trường) đưa đến bệnh xá Mễ Trì cắt Amidan miễn phí. Còn cân nặng
chắc chờ vài tháng nữa nó sẽ lớn!!!.
Đến
đợt khám tuyển quân lần này, cân thử tôi vẫn 39 kg. Thành tư bản 40 kg. Cứ đà này, không trước thì
sau cũng đi thôi. Để chắc ăn, tôi nhờ thằng bạn ở khoa Hóa cân hộ. Hắn cân 41
kg, vừa đủ B1. Thành tư bản chắc lận cục gạch đá gì đấy trong người cho đủ cân lạng.
Vậy là cả 5 thằng cùng đủ chuẩn.
Ngày 20/9/1972,
nhận giấy báo nhập ngũ. Ngày 23/9/1972, giao quân trong một ngày mưa gió. Cả bọn
cùng một số bạn trong lớp đưa tiễn đi bộ từ Đông Lỗ đến nơi giao quân mà vui
như đi hội. Không biết do vô tình hay hữu ý mà nơi giao quân được chọn tại một nghĩa
trang liệt sĩ của một xã gì đó ở Hiệp Hòa?...
Ban đầu, cả 5 đứa
biên chế vào a10, b4, c2, tiểu
đoàn 495,
trung đoàn 568 huấn luyện tại Mai
Siu, Lục Nam, Hà Bắc cùng các bạn Lý 1 và một vài anh ở ĐH Nông nghiệp, Phân đạm
Bắc Giang. Tiểu đội ấy vui quá hóa quậy, hay lý luận, nên B trưởng đã tách Thắng
đen và 3 bạn Lý 1 sang tiểu đội khác vì bị xem là các phần tử cá biệt, gây rối.
3 tháng huấn luyện
tại Mai Siu qua nhanh, chúng tôi được về phép 10 ngày để chuẩn bị đi B. Sáng đó
trời mưa, từ 5 giờ, cả tiểu đoàn đổ ra đường, mạnh ai nấy đi. Lúc đầu hung hăng
lắm, sau đuối dần. Một số may mắn chặn được xe tải đi nhờ một vài đoạn. Còn lại
chủ yếu đi bộ quãng đường khoảng 100 km. Tôi, Thành, Phú (Lý 1) về đến cầu phao
Chương Dương lúc hơn 3 giờ sáng, phải chờ đến 5 giờ mới được thông cầu. Hai
chân không lê nổi nữa, nhưng sức mạnh về với bu thật kỳ diệu… Những ngày đó Hà
Nội ngập tràn sắc lính. Chú nào cũng nghĩ mình là sao, dàn hàng ngang đạp xe
trên đường, chẳng sợ bố con thằng nào. Lúc đó, K15 vẫn đang sơ tán ở Đông Lỗ
nên chẳng có em nào để gặp. (Mấy tấm ảnh
lính sinh viên trong ngày phép tại Hà Nội ảnh 3, 4, 5)
Cuối tháng
12/1972, tiểu đoàn nhận lệnh hành quân. Hải “rù” được giữ lại làm khung để tiếp
tục huấn luyện các đợt tân binh sau. Ngày 03/01/1973, chia tay Mai Siu, chúng tôi
vượt đèo Trê thuộc dãy
Yên Tử để bắt đầu cuộc hành quân bộ 7 tháng xẻ dọc Trường Sơn. Sang đất Chí
Linh, Hải Hưng, đội hình rớt thêm Quát “điên” chuyển sang đơn vị khác. Vậy là K15 còn lại 3 thằng: Thành, Thắng và tôi hát tiếp bài
ca ra trận…
Chiều 8/01/1973, sân ga Thường Tín chứng
kiến một cuộc chia ly đẫm nước
mắt đưa tiễn những người lính
một đi
không hẹn ngày về. Những
dòng nước mắt
cố nén rồi cũng tuôn rơi;
những vòng tay ôm chặt không chịu buông
rời; những bước chân liêu xiêu
muốn khuỵu ngã; những
cánh tay yếu đuối, bất lực chới
với
cố níu giữ đoàn tàu... Những người mẹ, người cha, người vợ, người yêu, người thân…thất
thần nhìn theo đoàn tàu cứ nặng nề vô cảm tăng tốc đưa đoàn người trai trẻ lao
vào tuyến lửa… Chúng tôi đi và bỏ lại sau lưng những người thân yêu yếu đuối của
mình như thế. Nhớ buổi chiều sân ga đó, một cô gái áo đỏ đưa tiễn người yêu là lính
sinh viên bách khoa, cứ vừa khóc, vừa đeo chặt chẳng rời người yêu chỗ bậc lên
xuống toa tàu. Đến khi đoàn tàu lăn bánh, anh chàng mới dứt khỏi được và kịp nhảy
lên tàu. Cô gái ngã ra và ngất đi…(nghe đâu, sau ngày ấy khoảng 8 tháng, cô ấy
đã kịp lên xe hoa – chiến tranh mà, mấy người đi trở lại!!!)…
Sau vài ngày dừng
ở Cự Nẫm, Quảng Bình, tiểu đoàn chúng tôi với phiên hiệu Đoàn 2004 hòa cùng với
hàng chục tiểu đoàn tân binh khác vội vã đổ vào Trường Sơn. Trên vai mỗi người
lính chất đầy vũ khí, quân trang, lương thực, nước uống, thuốc men…nhẹ nhất
cũng 35kg. Đoàn quân cứ lầm lũi, cắt rừng mà đi, hết vượt núi lại lội ngầm; lúc
bên sườn đông, lúc sang sườn tây, bụi đỏ mi mắt... Người khỏe dìu kẻ yếu, mỗi
ngày hành quân từ 5 đến 8 tiếng tuỳ từng binh trạm. Nhiều lần tưởng ngã quỵ…Trường
Sơn đại ngàn, hùng vĩ, thách thức những bước chân chưa từng gian khổ…Thế rồi, cuối
tháng 7, cũng vào đến Cà Tum, Tân Biên, Tây Ninh. Cả đoàn dừng ở đó làm đường
khoảng 3 tháng để chờ phân bổ về đơn vị chiến đấu. Ở đây, một số anh đã tốt
nghiệp đại học thuộc diện “quý hiếm” hơn đã được đưa về các đơn vị hậu cần. Cũng
tại đây, lần đầu tiên đơn vị chịu tổn thất lớn khi bị trúng bom vào đội hình
đang đứng chân. 12 đồng đội đã nằm lại đất Tây Ninh khi còn chưa biết mùi chiến
trận.
Cuối tháng
12/1973, toàn tiểu đoàn được bổ sung cho Trung đoàn bộ binh 271 đang thiếu hụt
quá nửa quân số ở mặt trận Quảng Đức (nay là ĐăkNông). Lại hành quân ngược ra
Tây Nguyên, cứ nhằm phía có tiếng súng mà đi. Mặt trận cứ dần gần... Cảnh tượng
chốc chốc lại gặp từng tốp, từng tốp lính hốc hác, người vàng bùn đất chuyển thương
binh đủ kiểu về tuyến sau đã thực sự ám ảnh, khủng bố đám tân binh chúng tôi. Cảm
giác lo sợ, hồi hộp cứ lẫn lộn. Chậc…, chấp nhận thôi, vào trận mà!.
Thắng – Ai bảo tên cậu là Thắng “đen”!
Tôi và một vài
lính sinh viên khác được bổ sung về trung đội thông tin của d8 bộ binh và đưa đi
huấn luyện sử dụng máy bộ đàm 2W. Thắng, Thành bổ sung về đại đội trinh sát
trung đoàn (c21). Vậy là chia tay nhau từ đấy (thật ra còn gặp nhau vài lần khi
bọn nó đi bám địch về phía d8, hoặc khi tôi quay về cứ để lấy gạo, thực phẩm, đạn
dược…đi qua chỗ trú quân của c21).
Suốt cuộc đời
lính, từ khi huấn luyện đến khi chiến đấu và hy sinh, Thắng “đen”có lẽ là đen đủi
nhất đúng như biệt danh của nó. Trong huấn luyện, Thắng lầm lì, ít nói bị cán bộ
coi là nhân vật bướng bỉnh, hay cãi lại. Thắng đã từng bị c trưởng ra lệnh trói
lại và tống vào góc nhà chỉ vì đi dép cao su mà lại mang tất chứ không phải giầy
theo đúng quân lệnh (chân Thắng đen bị dị ứng và ra mồ hôi không đi được giầy,
giải thích thế nào cán bộ cũng không nghe). Còn nữa, khi bổ sung về c21 được
vài ngày, trong một lần đi trinh sát, Thắng bị lạc trong rừng giữa xung quanh
là địch. Sau 2 ngày cố gắng mà không tìm được lối về, tinh thần hoang mang, bụng
đói khát, sức khỏe cạn kiệt dần, Thắng quyết định dừng lại không đi nữa. May
sao, sang ngày thứ 3, tốp trinh sát đi tìm đã phát hiện Thắng “đen” đang trong
trạng thái tuyệt vọng, nằm trên võng mắc bên một con suối cạn…
Khoảng 1 tháng
sau đó, Thắng tham gia một chuyến trinh sát bám địch ở cao điểm 904 gần dinh điền
Thuần Hanh. Trước lúc đi, Thắng lấy bộ quần áo
còn xanh màu Tô Châu
ra mặc, ăn hết cả nắm cơm dự trữ rồi xách khẩu AK lên đường (thường ngày, Thắng
vẫn vác khẩu B40, tự nhiên hôm ấy lại đổi súng – đối với lính chiến, đó là một điềm gở
trước khi đi trận). Tổ trinh sát của Thắng 4 người đang đi dọc theo con đường
be (đường do dân địa phương dùng xe kéo gỗ mà thành) thì lọt vào ổ phục kích. Địch
bấm mìn định
hướng Clây-mo và nổ sung rào rào. Khanh đi đầu tiên hy sinh ngay; Thắng đi
thứ hai bị mìn quét gãy nát cả phần đùi và nằm tại chỗ; hai người đi sau cũng bị
thương chạy bật trở lại. Lúc sau thấy rộ lên các loạt súng AK xen lẫn tiếng
AR15 của địch…rồi cả cánh rừng rơi vào im lặng ghê sợ. Hôm đó là ngày 14/02/1974.
Mấy hôm sau, đại
đội trinh sát c21 cùng một trung đội của d9 đã tổ chức đi tìm và làm công tác tử
sĩ. Nhưng phải đến lần thứ hai mới tìm thấy địa điểm Thắng và đồng đội hy sinh
(Vũ Đức Thành có tham gia trong chuyến đi lấy xác này). Địch vẫn tiếp tục phục
kích. Anh em kể lại: Khi tiếp cận được chỗ Thắng nằm thấy xung quanh rải rác vỏ
đạn AK, trước mặt có lá thư, tấm ảnh của bố mẹ và các em Thắng. Đặc biệt khẩu
AK quay ngược đầu súng về phía Thắng. Phía trước, cách khoảng 5m có vài chiếc
mũ sắt ngụy. Có lẽ, không muốn bị rơi vào tay địch, Thắng quyết liệt bắn trả và
đã quyết định giành viên đạn cuối cùng cho mình. Trước giây phút đó, Thắng lấy
thư và tấm ảnh bố mẹ, các em ra ngắm nhìn lần cuối trước khi vĩnh viễn ra đi...
Rất cẩn thận, anh em lấy dây buộc vào cổ chân Thắng rồi lui về phía sau kéo mạnh.
Sợi dây căng ra và tiếng lựu đạn phát nổ. Rồi hàng loạt đạn AR15 và M79 bắn xối
xả về phía ta. Địch dự đoán ta sẽ lên lấy xác nên tiếp tục gài lựu đạn nhằm gây
thương vong thêm cho ta. Rất may anh em đã cảnh giác nên không thương vong
thêm. Chỉ vài phút sau, pháo địch đã dội cấp tập vào tọa độ ta vừa nhanh chóng
rút ra. Việc tổ chức lấy tử sĩ không thành. Thắng vẵn nằm đó, dưới tán rừng xanh
cao của Quảng Đức, dưới tiết trời lạnh giá của Tây Nguyên đại ngàn… Thật đau
xót và thương vô cùng. Sau đó, đơn vị di chuyển sang hướng khác chặn đánh địch,
không còn ai quay trở lại đó lần nào nữa.
Khi
được trở ra Bắc, tôi, anh Minh già và Đồng Nhật Tiến đến nhà Thắng báo tin dữ.
Bố mẹ Thắng chết lặng đi bởi các cụ vẫn hy vọng Thắng sẽ trở về. Chúng tôi
không biết phải an ủi thế nào. Chỉ còn biết kể lại chi tiết hy sinh anh dũng của
Thắng và giây phút xúc động về lá thư và tấm ảnh gia đình được Thắng lấy ra
nhìn lần cuối. Có điều chúng tôi đã nói dối rằng Thắng đã được đồng đội chôn cất
sau khi hy sinh.
Nhiều năm sau, Nhà
nước có chính sách hỗ trợ trong việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Rất nhiều gia đình liệt
sĩ đã có được thông tin, tìm đến tận nơi và mang được hài cốt người thân của
mình đưa ra Bắc. Bố mẹ Thắng đã gọi chúng tôi lại và bày tỏ nguyện vọng muốn
vào Quảng Đức để tìm và đưa Thắng về. Tình huống thật nan giải. Ban đầu chúng
tôi vẫn tiếp tục giấu và nói là để đi tìm hiểu thông tin ở Trung đoàn cũ về vị
trí, tọa độ an táng cụ thể. Tất nhiên là không có kết quả. Phạm Mạnh an ủi các
cụ, rằng có lẽ Thắng không muốn xa các đồng đội nằm lại trong đó nên đã không báo
mộng hoặc cho biết thông tin Thắng nằm ở đâu chăng!. Thất vọng, nhưng các cụ
cũng đành nguôi ngoai. Vài năm sau, các cụ lại quyết đi bằng được. Lần này,
không nói dối được nữa, chúng tôi đành phải kể thật về cái chết của Thắng. Đau đớn
đón nhận thông tin này, bố mẹ Thắng thở dài, nuốt những dòng nước mắt vào
trong, lẩm bẩm: Sao lại bắt con tôi khổ thế này, hả trời…
Sau khi bố Thắng
mất, vào khoảng năm 2001, mẹ Thắng lại nói với tôi: Dù không tìm được hài cốt
Thắng, bác vẫn muốn một lần vào Quảng Đức để biết được nơi Thắng đã chiến đấu
và hy sinh, thắp cho Thắng và đồng đội một nén hương rồi mang về một nắm đất đặt
lên bàn thờ. Với nguyện vọng ấy, chúng tôi không thể ngăn cản được nữa, mặc dù
lúc ấy sức khỏe của cụ, đặc biệt là cái chân đã yếu lắm. Đợt ấy, tôi không trực
tiếp đi được, bèn gọi để anh Nguyễn Lâm (nguyên sinh viên khoa toán, trưởng ban
liên lạc CCB 271 tổ chức đưa cụ và em gái Thắng đi. Đồng thời tôi cũng gọi điện
cho Đồng Nhật Tiến (ở Biên Hòa) biết để bố trí xe đón cụ ở sân bay và đưa cụ cùng
đoàn đi ĐăkNông. Cũng may, chắc trời và Thắng phù hộ, chuyến đi được thực hiện
đúng như mong muốn. (Kèm theo một số bức ảnh về chuyến
đi này ảnh 1 và 2).
Sao thế Thành ơi, còn có 16 ngày nữa thôi mà!
Tôi và Vũ Đức
Thành ở cùng a10 suốt những ngày huấn luyện rồi hành quân đi B. Hai thằng nhỏ
con gần như nhất tiểu đoàn. Đến nỗi đi đến đâu dân cũng bảo 2 chú trốn bố mẹ đi
bộ đội. Cũng bởi thế nên 2 thằng luôn được phân công mang vác những vũ khí và
quân dụng nhẹ nhất. Suốt dọc đường hành quân, lúc nào Thành tư bản cũng ư ử
hát: “Người chiến sĩ ấy, ai đã gặp anh, không thể nào quên, không thể nào
quên…Tổ quốc ơi, Người kiêu hãnh xiết bao…”.
Cho đến nay, mỗi lúc nhớ lại, tôi dường như vẫn nghe vẳng tiếng hát quen
thuộc ấy của Thành.
Thành có khuôn mặt
thư sinh, nước da trắng và cặp môi trề, mọng đỏ như con gái. Đặc biệt, hắn rất lười,
lười cả tắm giặt, nên quần áo lính của Thành gần như rất mới, ít bạc màu. Lý giải
cho sự lười này, hắn thường nói: trên đời chỉ có thằng chết rét chứ làm gì có
thằng nào chết bẩn đâu!.
Thế nhưng Thành lại rất chăm chỉ học tiếng Anh. Hắn mang theo cuốn từ điển Anh
– Việt của Vũ Tá Lâm, hễ cứ lúc nào có thời gian nghỉ lại lôi ra tra và học từ.
Dọc đường hành quân, nhiều trạm giao liên ăn không đủ no, bao quần áo tư trang
chúng tôi mang đổi cho dân Lào lấy gà ăn, vừa là thanh lý bớt cho nhẹ ba lô. Chỉ
giữ lại mỗi thằng 2 bộ quần áo ngắn tay, 2 cái quần đùi. Thế mà Thành vẫn giữ lại
cuốn từ điển khá nặng ký ấy.
Nhớ lại cái anh
chàng b trưởng Trịnh Trọng Nhang đã từng ra lệnh trói Thắng đen. Khi đi trên đất Lào, quân ta lần đầu tiếp
xúc với vỏ đồ hộp, thuốc lá, bao bì hàng hóa của Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc...
Thành tư bản cầm lên đọc cái này Made in Japan; cái kia Made in USA, Made in
Korea… Lão Nhang đứng gần đó bĩu môi: Chúng mày chỉ giỏi lòe thiên hạ. Trên đời
này Ma-de-in thì chỉ có Chi-na thôi các bố ạ!!!. (Hehe…)
Có một câu chuyện
cười ra nước mắt. Hôm ấy chúng tôi hành quân trên đất Lào. Mục tiêu là phải vượt
rất nhanh qua một binh trạm mới bị B52 rải thảm hôm trước. Hàng chục kilômet
vuông rừng bị cày xới và tan hoang bởi B52 địch. Rừng cây xác xơ, trơ cành khô
khốc vươn những cánh tay đen sì lên bầu trời xám xịt. Cảnh tượng đúng là một tọa
độ chết. Chúng tôi không ai bảo ai đều khẩn trương vượt qua cung đường này. Quãng
đường hôm ấy cũng dài hơn bình thường, Phải đi mất gần 10 tiếng mới về đến bãi
khách (nơi dừng chân ở một trạm giao liên). Mọi người ai nấy đều rất mệt nên tất
cả tập trung nấu ăn và ổn định chỗ nghỉ sớm để lấy sức mai đi tiếp.
Sáng hôm sau đến
phiên tôi và Thành tư bản nấu cơm sáng cho tiểu đội. Từ tối, tôi và Thành lần
mò xuống suối lấy nước. Đoạn suối hôm ấy ở xa và rất cạn. Hai thằng loay hoay
mãi mới lấy đủ một tăng nước khiêng về rồi yên tâm lên võng đánh một giấc. Tờ mờ
sáng đã phải trở dậy, mắt nhắm, mắt mở nấu cơm để đi sớm. Xong. Đập cả tiểu đội
dậy ăn để kịp lên đường. Anh Phong, tiểu đội phó múc nước để súc miệng, đánh
răng bỗng khựng lại rồi phun phè phè từ miệng ra toàn cái gì đen đen. Lão hét ầm
lên: Hai thằng chúng bay lấy nước ở đâu mà mang về toàn nòng nọc thế này. Nói rồi
anh xông lại chỗ nồi cơm, mở vung ra. Chao ôi, cả cái nồi quân dụng đầy cơm trộn
với nòng nọc như đỗ đen. Toàn tiểu đội nhìn nhau ngao ngán. Khổ, tôi và Thành đi
lấy nước, rồi nấu cơm đều trong đêm tối thui, có nhìn thấy gì đâu…Thế rồi cả tiểu
đội cũng đành liều nhặt nòng nọc ra rồi ăn được miếng nào thì ăn cho qua bữa và
cũng là để lấy sức hành quân. Hôm đó không ai dám mang cơm theo như mọi ngày.
May ở những binh trạm đầu đường dây, mọi người vẫn còn lương khô dự trữ mang ra
ăn, không thì không biết làm sao được đến trạm giao liên sau. Thế là từ sau hôm
đó, tôi và Thành không được ghép cùng nhau nấu ăn nữa…
Sau khi đánh và
giải phóng Thị xã Phước Long, Thị xã Gia Nghĩa, Trung đoàn 271 được tách ra để
chuẩn bị bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh. Tiểu đoàn 8 của tôi chuyển sang Trung
đoàn 271b, sau gọi là 172 hành quân xuống Long An. Thành theo 271 tiếp tục đánh
xuống Long An, rồi Mỹ Tho. Lúc này, toàn mặt trận đã bước vào Chiến dịch giải
phóng Sài Gòn – Gia Định từ ngày 9 – 30/4/1975 (Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử).
Hôm ấy, ngày 14/4/1975, đơn vị Thành dừng chân bên bờ kênh Nguyễn Văn Tiếp thuộc
địa phận huyện Cai Lậy, Mỹ Tho để chuẩn bị cho trận đánh. Thành và một anh bạn cùng
đào hầm. Đúng lúc anh bạn đang lui cui dưới hầm, Thành ngồi trên bờ thì một quả
“pháo đĩ” bất ngờ rơi trúng vị trí hầm đào. Lính ta gọi là pháo đĩ bởi quân đội
ngụy, khi ở trên chốt thường đưa gái lên để phục vụ sĩ quan. Sau khi phè phỡn,
chúng cho gái nghịch ngợm nạp đạn rồi đạp cò pháo chơi. Quả pháo bay về phía trước
và rơi nổ ở bất kỳ chỗ nào. Vậy mà xui xẻo, Thành lại dính và hy sinh tại chỗ.
Thật vô cùng đau xót và đáng tiếc, vì chỉ 16 ngày nữa Dương Văn Minh tuyên bố đầu
hàng, Sài Gòn được giải phóng...
Ngày trở về Hà Nội,
tôi đến số 1 Phố Huế thăm mẹ Thành. Thấy bọn tôi, bà mẹ Thành đau đớn, gào khóc
có vẻ như giận dỗi vì Thành đã không trở về cùng chúng tôi. Thật không biết
dùng lời lẽ nào để làm dịu nỗi đau của bà, chiến tranh tàn nhẫn quá. Nhiều lần
sau đó bọn tôi đến, bà vẫn như vậy. Sự đau xót đến tận cùng đã làm cho người ta
trở nên vô lý!. Cứ thế, bọn tôi sợ, sợ mỗi lần đến lại làm lay động nỗi đau của
bà.
Nhiều năm sau,
khi mẹ Thành đã mất, các chị Thành tìm đến chúng tôi, chúng tôi mới được biết. Từ
năm 1977, bố mẹ Thành đã tìm được đến nơi Thành hy sinh và được người dân chỉ vị
trí an táng tại một xã thuộc huyện Châu Thành, Mỹ Tho. Lúc đó, các cụ chưa có
cách nào để đưa được hài cốt Thành về với gia đình, đành ghi dấu lại bằng một tấm
bia gỗ cắm trên mộ và những tưởng sẽ sớm trở lại. Tiếc thay, có lẽ do tuổi cao,
sức khỏe có hạn, nên nhiều năm sau các cụ mới quay lại thì đã mất dấu, không
còn tìm thấy ngôi mộ ngày ấy nữa. Theo thông tin từ địa phương cho biết, các mộ
liệt sĩ ở khu vực này đã được quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Tiền Giang.
Những ngôi mộ rõ thông tin đều được ghi tên liệt sĩ trên bia mộ; còn những ngôi
mộ không có và không rõ thông tin thì quy tập vào khu vực các liệt sĩ chưa có
tên (khu vực liệt sĩ vô danh). Thành đã được quy tập về đây cùng nhiều đồng đội
chưa có tên khác.
Năm 2009, nhân một
chuyến công tác phía Nam, Tôi, Mai Thanh Cát, Đồng Nhật Tiến, Phú (K16 Vật lý)
và Giang, cháu gái Thành cùng một người
bạn tôi là nhà ngoại cảm đã được một anh bạn đồng
đội sống tại Mỹ Tho đưa về tận nơi an táng Thành. Tại khoảng ruộng được dân chỉ
là nơi chôn cất Thành trước kia, không thấy gì cả, chỉ thấy có một đám lúa mọc
xanh hơn chỗ khác. Nhà ngoại cảm xem xét và bảo đó chính là vị trí mộ Thành trước
đây, nhưng hiện nay không còn cốt dưới đó nữa.
Chúng tôi trở lại
Nghĩa trang Liệt sĩ Tiền Giang, tìm đến một khu
điệp trùng mộ liệt sĩ chưa có tên.
Nhà ngoại cảm đốt hương lẩm nhẩm khấn
rồi dẫn chúng tôi đi theo những thông tin từ đâu đó đến trong đầu. Đến một khu
mộ, ông ta nói mọi người quan sát và để ý xem sẽ có con bướm nhỏ bay đến và đậu
vào một ngôi mộ có vết nứt ở phía đầu. Chúng tôi căng mắt nhìn và chờ đợi. 10
phút…, rồi 15 phút, bỗng thấy một con bướm màu trắng bay đến thật. Sau khi lượn
lờ một vài vòng,
con bướm đậu xuống một ngôi mộ. Chúng tôi cùng xúm đến và thấy ở ngôi mộ đó có một vết nứt nhỏ ở
phía đầu mộ. Nhà ngoại cảm xác định đó chính là ngôi mộ của Thành. Mọi người
ghi dấu lại vị trí khu mộ, hàng lối, số thứ tự và chụp ảnh ngôi mộ. Lúc này
chúng tôi cũng chỉ bằng niềm tin tâm linh để tin rằng chính là Vũ Đức Thành
đang nằm ở
đó. Cháu gái Thành đã kể lại câu chuyện này và đưa mẹ, các chị của Thành đến
đây. Sau đó chị gái Thành nói gia đình cũng tin rằng đó chính là ngôi mộ của
Thành, và chọn đó là nơi gia đình thắp hương cho Thành mỗi khi đến thăm.
Gia đình lúc đó
có nguyện vọng đặt bia tên Vũ
Đức Thành
ở đó, nhưng Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Tiền Giang không đồng ý (vì họ
không thể căn cứ chỉ vào
ý kiến nhà ngoại cảm). Việc cuối cùng tiếp theo mà chúng tôi có thể làm được, là thuyết phục họ đồng ý khắc tên Vũ Đức
Thành trên
tấm bia lớn tri ân
các liệt sĩ an nghỉ tại Nghĩa
trang Liệt sĩ Tiền Giang. Tại nơi này, tháng 5 năm 2018, trong một chuyến đi khám
phá sông nước miền Tây, nhiều thành viên của lớp Vật lý K15 đã tìm đến đây thăm,
trân trọng thắp những nén nhang tri ân và tưởng nhớ bạn Vũ Đức Thành cùng các đồng
đội của anh đã ngã xuống vì mảnh đất này./.
Hà Nội, tháng 10/2020
Vũ An Ninh
Nhận xét
Đăng nhận xét