31 NHỮNG KỶ NIỆM TRONG MIỀN KÝ ỨC



1.   Tựu trường

Sáng ấy, mấy thằng Phú Thọ trúng tuyển Đại học Tổng Hợp hẹn nhau từ xứ "cọ xòe hoa che nắng", cùng ra ga Phú Thọ, đáp  chuyến tàu đêm về Hà Nội tựu trường. Chuyến xe lửa đêm thở phì phò bò vào ga Hàng Cỏ. Trời đã sáng rõ, sau một đêm mất ngủ lếch thếch xuống ga với hành lý duy nhất là những chiếc hòm khóa chuông bằng gỗ. Cả bọn bước ra ga nhìn cảnh những toà nhà mặt phố và ngơ ngác hỏi nhau:

- Sao cùng vào đại học Tổng hợp mà mày lại về Lê Thánh Tông còn bọn tao lại về Thượng Đình nhỉ?

Thôi kệ, chia tay nhau thôi, khoa Lý về Thượng Đình. Hỏi thăm đường về Thưng Đình, mấy ông xích lô ở sân ga gườm gườm: "Ra Cửa Nam đi xe điện về Hà Đông, đến ga Cao Xà Lá thì xuống". Lò dò từ ga ra được Cửa Nam (cũng không xa lắm), bà con chỉ cứ lên tàu rồi hỏi tiếp.

Chờ ở bến xe điện Cửa Nam được một lúc, thấy một con tàu chạy trên đường ray đến nhưng tàu mà không có đầu tàu, chỉ có hai toa, lại có một cái cần cao nghệu với một anh cầm cái dây ở cui toa. Lên tàu thầy cũng giống tàu hỏa mình đi, có đủ các thành phần mọi người ,chỉ có điều tàu đi khá chậm, thỉnh thoảng bác lái tàu lại dậm chân cho chuông kêu leng keng báo hiệu. Tàu đang đi bỗng có người hét lên: “Có người ngã kìa!” Nhìn ra thấy một cậu choai từ bậc lên xuống của toa đâm bổ mặt xuống đường.Cả bọn đang hoảng thì thấy nhoằng một cái anh ta đã bật dựng người dậy và thông thả bước đi như không có chuyện gì xảy ra. Sau này mới biết anh ta đã vận dng rất thành thao quy  tắc quán tính của ngành vật lý nhà mình để “nhảy tàu”. Sau này bọn mình cũng bắt chước, cũng nhảy tàu”, nhưng quay mặt xuôi theo hướng tàu chạy, thế là có lần ngã sưng mặt.

   Rốt cuộc cũng tha được cái hòm gỗ tới Ký túc xá. Lớp Lý K15 được phân ở nhà B, mấy thng bạn Toán bên nhà A. Bắt đầu làm quen với các thành viên trong lớp. Đầu tiên có một anh mặc quần áo bộ đội to to giới thiệu: “Anh là Minh, nguyên bộ đội đặc công nước, có thể bơi 5 cây số không nghỉ, khóa tay nhanh như chớp!” Bọn mình gọi anh là Minh già để phân biệt với Minh mán và Lê Minh. Lớp còn có Thịnh mán vì ở hắn từ Cao Bằng xuống. Cả bọn ban đầu cứ tưởng mán thật, nhưng Tuấn loe bảo: Mán gì đâu! chúng nó khôn bỏ bố ra đấy!” Rồi bọn mình thấy có my anh cũng là bộ đội, như anh Chỉ, Hiên , còn có mấy anh rất đẹp trai, đó là các anh Lộ, Hùng, Hiển và anh Long. Các anh đều rất thân thiện và ngay lập tức trở thành thần tượng cho lũ trẻ. Sau đó còn có các anh bộ đội vẫn  mặc nguyên quân phục khi lên lớp. Hỏi ra thì là các anh bộ đội được cử biệt phái đi học, vui lắm, như các anh Hồng, Dân, Kỷ, Thái mà mình không nhớ hết. Đặc biệt là còn có các bạn ở ngoại trú, là dân Hà Nội, hỏi tên thì rất thú vị vì bạn nào cũng có biệt hiệu kèm theo. Đầu tiên ai mà chả quan tâm đến các bạn nữ trước. Thấy có một bạn be, gầy gầy nhưng lại luôn đi với một bạn to to. Hỏi ra thì đó là Mai “chuột” và Yến “voi”, tiếp là Trung Chính (Khổ, chỉ cái tên rất “đàn ông”  ấy  mà sau này bị gọi đi bộ đội), Quang, Oanh, Tâm, Dung, Vân. Lớp chỉ có 8 bạn nữ thôi, khoa tự nhiên mà! Cánh con trai ngoại trú có Bình “Hàng Buồm” Tuấn, ... Các bạn nội trú thì quen nhanh hơn, nào Cát, Mạnh, Ninh, Đạm, Tốn, Chính ... Ồ, có lẽ sẽ kể dần.

Cuộc đời sinh viên bắt đầu! Thế mà đã 55 năm trôi qua! Buồn quá, anh Minh, anh Hiên và mấy bạn Phạm Mạnh, Tiến, Tiện... và đặc biệt có 3 bạn đã anh dũng hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ, là các bạn Phải, Thắng cua” và Thành tư bản.

2.      Giảng đường

Sau những ngày ổn định tổ chức là bắt đầu những ngày học tập. Trong con mắt của lũ học sinh cấp 3 thời “chiến tranh phá hoại” với những lớp học nửa nổi nửa chìm nối với hào giao thông khi có báo động thì “Giảng đường” là cái gì đó rất cao và xa lạ. Mà cũng đúng thật vì đó là một toà nhà to, đẹp gọi là Nhà Liên hợp. Khu giảng đường và ký túc xá ở Thượng Đình vốn là trường Trung cao cơ điện thì phải. Nhưng buổi học đầu tiên lại diễn ra khác hoàn toàn so với tưởng tượng. Lớp học trống trơn không có bàn ghế (được giải thích là chưa kịp trang bị và mấy hôm sau cũng có bàn ghế thật), cả lũ ngồi xuống sàn nhà nghe giảng. Tuy vậy những ngỡ ngàng ấy sớm qua đi khi nghe bài giảng của các thầy. Học sinh phổ thông chỉ quen mỗi tiết học có một nhúm kiến thức nay nghe các thầy giảng thật say sưa.

Đầu tiên là nghe bài giảng của thầy Hoàng Phương. Hình như thầy là Chủ nhiệm khoa thì phải. Sau mỗi bài giảng của thầy, cả lớp há hốc mồm nghe thầy kể chuyện “ Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà”, cứ như toàn bộ cuốn tiểu thuyết ở trong đầu thầy, không sót chữ nào cả.

Thầy Dũng dạy Toán khi lên lớp chỉ có một mẩu giấy nhỏ mà không quên bt cứ công thức nào, dãy số nào. Nghe nói thy yêu một cô rất xinh nhưng gia đình cô không cho lấy vì gia đình cô theo đạo Thiên chúa. Vì vậy thầy đã học thuộc tất cả các bài kinh về Đức Chúa Lời đến mức gia đình phải đồng ý gả con gái cho thầy.

Thầy Đồn cực kỳ uyên bác và hiền hậu, chỉ có điều mỗi khi thầy đi đâu đó là chỉ một lúc sau đã thấy vợ thầy, cũng làm ở khoa, đến hỏi “ Các em có thấy anh Đồn ở đâu không?”

Nhớ mãi những buổi làm thí nghiệm Vật lý của thầy Quýnh nếu vớ phải bài đo trọng lượng bằng cái cân tiểu ly. Cả buổi chiều ngồi nhìn cán cân đung đưa tưởng chừng vô tận, không dám thở mạnh vì nếu nó không dừng lại sẽ không được về.

Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò. Nhưng bọn sinh viên yêu ghét nhau, thì gán cho nhau đủ thứ “biệt danh” hầm hố, ấn tương,  gợi  cảm,  nào Mán, Loe, Ống nhổ, Già, Khỉ, Voi, Chuột, Cóc, Cù, Răng vàng, Tư bản, … chứ bao giờ cũng vẫn gọi tên các thầy cô một cách trân trọng, ngay cả khi ghép tên thầy cô thành một Chuỗi Hội tụ cho dễ nhớ: “Khai Tiêu Cống Xý, Hùng Dũng Phương Phi, Thỏa Thê, Thích Chí Đồn Đại”.    

Còn nhiều thầy cô khác nữa, thầy cô nào cũng tận tâm vì học trò. Có cảm giác những ngày đó vẫn mới như hôm qua mà đã hơn 50 năm trôi qua rồi.

3.   Những ngày vui vẻ

Thời gian trôi đi, mọi việc học hành dần vào nề nếp và đã có thời gian để đi thăm bạn bè và khám phá xung quanh. Lang thang với nhiều bạn nhưng sao lại chỉ nhớ những lần thăm những người bạn nay đã đi xa. Có lẽ vì các bạn còn lại gặp nhau thường xuyên rồi. Nhớ tổ mình được bạn Mai đưa đến thăm nhà Yến ở phố Bích Câu, tò mò ngắm mãi ngôi nhà cổ. Nhớ những ngày cả bọn nhảy tàu điện Bờ Hồ - Cầy Giấy xuống ga Kim Mã, chỗ sứ quán Thụy Điển bây giờ, rồi đi bộ qua những ruộng rau muống, rau lấp để đến nhà Tiến “khỉ” trong làng Ngọc Hà, ngồi chơi đến tối chẳng muốn về.

Chuyện tắm trộm: Trong trường chỉ có hai nhà tắm “công cộng”, nhà tắm nữ có mái che và cửa ra vào kín mít, nhà tắm nam là một cái bể ở giữa, xung quang lát xi măng và xây tường bao. Nhà tắm lúc nào cũng ồn ào tiếng nước chảy, tắm gội và trò chuyện nhưng chỉ những ngày hè. Mùa đông rét căm căm mà cũng phải lao ra tắm thì đúng là cực hình. Có mấy thằng bạn khoa khác rỉ tai bảo đi tắm trộm bên khu nhà máy Cao-Xà-Lá. Bên đó công nhân sau khi tan ca được tắm nước nóng. Thế là cả bọn rình vào lúc tan ca đi qua cng bảo vệ vào khu nhà tắm công nhân để “tắm trộm. Thật sung sướng khi vòi nước nóng chảy xối lên người và tắm xong lại vênh váo đi về giống công nhân. Nhưng chỉ được một thời gian bảo vệ nhà máy biết nên quản chặt không cho sinh  viên vào nữa, thế là đành chịu!

Chuyện bẫy nước: Ngồi học chẳng có gì giải trí, cả lũ nghĩ ra cách buộc dây vào cái bát sắt, khép hờ của ra vào và đặt bát đầy nước lên trên cánh cửa. Chính lẹp là đứa hăng hái nhất. Đặt bẫy xong cả bọn ngồi chờ. Bỗng thy một bàn tay nhẹ nhàng nâng bát nước lên và khéo léo bước vào. Cả bọn ngẩn người ra thì hóa ra anh Lộ. Anh bảo “Chúng mày làm cái trò mèo này sao qua được mắt anh!. Thật phục lăn! Lại ngồi rình thì “kẹt” cánh ca mở ra, bát nước đổ ào xuống và  một cái đầu ướt sũng ngó vào trong khi cả bọn hoan hô rầm rĩ. Bỗng Chính chết lặng thấy đó lại là anh trai mình, hôm ấy đến thăm em! Chính lúng búng giải thích vì bọn nó hay phá bọn em học, thế là anh cũng cho qua. Chán trò lại nghĩ ra cách buộc dây vào xoong, đổ nước vào và đu đưa xuống cửa sổ tầng 3 bên dưới, nơi bọn con gái khoa Địa đang ở để nước hắt vào phòng. Cả bọn đang khoái chí thì có tiếng gõ cửa, cánh ca mở ra cùng với tiếng cười ha hả là một xô nước đầy hắt vào rồi tiếng bước chân chạy biến mất theo hành lang. Hóa ra bọn con gái khoa Địa lên trả thù. Vụ này làm anh Lộ phục lăn và bảo: “Bọn nó xứng đáng là đối thủ của chúng mày đấy!”

Vụ “Eo ôi thằng Tiệp”:  Cạnh trường là bãi pháo phòng không của bộ đội và cánh đồng lúa mệnh mông kéo dài đến tận Mễ Trì, nơi bọn khoa Văn, Sử ở và học. Ban đêm cánh đồng vắng lặng thật thích hợp cho các cuộc chuyện trò và tâm sự kín đáo. Nhưng ở đó cũng là nơi rất nhiều nguy hiểm vì “mìn” rải rác khắp nơi cũng như có bóng những chú đi giải quyết nỗi buồn. Một tối Tiệp ta lò dò đi ra đấy. Trong đêm yên tĩnh những tiếng động nhỏ cũng nghe rất rõ. Bỗng Tiệp nghe tiếng con gái thì thào: “Eo ôi thằng Tiệp!Cậu ta đành tháo chạy đi chỗ khác. Tiệp kể với mọi người rằng chắc là một đôi lớp ta vì họ nhận ra  Tiệp. Nhưng đó đã trở thành kỷ niệm rồi, cần gì truy tìm xem đó là ai. Nghe nói cũng còn nhiều đôi nữa nhưng vẫn trong vòng bí mật. Lại cũng nghe nói có hai bạn dắt nhau ra bãi pháo bắt nhau thề suốt đời phải yêu thương cô bạn nếu tao nhường cho mày, nếu không tao sẽ giết. Bây giờ thấy rằng những lời thề độc cũng chẳng có gì ghê gớm vì đến nay cũng chẳng có chuyện gì xảy ra, cũng như những mối tình sinh viên  trong thời chiến lãng mạn thật nhưng ít khi đi đến đích cuối cùng. Chúc mừng anh Long và bạn Trung Chính, sau này thêm Hải và Vân nữa.

4.     Chiến tranh

Những ngày đầu học tập không có tiếng bom ở miền Bắc, nhưng chiến tranh vẫn hiện hữu cùng với mọi người. Nó hiện hữu qua mỗi buổi phát thanh của trường về tình hình chiến sự, về bom đạn trong khu 4, nó hiện hữu thông qua cả những bài hát nghe qua loa như “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, “Nổi lửa lên em”, “Tiếng đàn Ta Lư” ... như nhắc mọi người rằng sẽ đến lúc lên đường. Hết năm thứ nhất, các anh Lộ, Hiển, Hùng đã chuyển sang Bách khoa, một loạt các bạn đã lên đường tháng 9/1971, lớp vắng hẳn đi. Cả lớp, trừ các anh bộ đội và vài bạn không thể lên đường, còn tất cả đều chuẩn bị tinh thần đến lượt mình tham gia chiến đấu.

Kỷ niệm trước khi lên đường không bao giờ có thể quên, đó là những ngày tháng 4 năm 1972, máy bay Mỹ ném bom trở lại miền Bắc, đặc biệt là Hải Phòng và Hà Nội. Đêm hôm đó chúng tôi nhìn về phía bắc thấy kho xăng Đức Giang cháy sáng rực trờiêm hôm đó và những đêm sau nữa nhìn qua cửa sổ thầy dòng người đi bộ, dắt xe đạp, gồng gánh, xích lô, xe ba gác dài tưởng chừng như vô tận đi về phía Hà Đông sơ tán mới thấy một phần nhỏ cái khốc liệt và tàn bạo của chiến tranh. Lại tiếp tục hai đợt “lên đường” nữa, vào tháng 5 và tháng 9 năm 1972 thì phải (bọn mình đi tháng 5 nên không chắc lắm). Sau này trong những đêm dài một mình trực chiến trong căn hầm nhỏ với cây đèn bão trên trận địa tên lửa giữa cánh đồng vắng lặng mới thấy nhớ da diết những ngày học tập vui vẻ và mong chiến tranh kết thúc để trở về trường.

Tháng 9/2025

Đặng Văn  Nghĩa

Nhận xét

  1. Cám ơn Nghĩa về những dòng ký ức

    Trả lờiXóa
  2. Kết ban hôm nay có điện lưới vì bão đã đọc được bài viết ngắn gọn và cũng khá đầy đủ

    Trả lờiXóa

Đăng nhận xét