Sáng ấy, mấy thằng Phú Thọ trúng tuyển Đại học Tổng Hợp
hẹn nhau từ xứ "cọ xòe hoa che nắng", cùng ra ga Phú Thọ, đáp chuyến tàu đêm về Hà Nội tựu trường. Chuyến
xe lửa đêm thở phì phò bò vào ga Hàng Cỏ. Trời đã sáng rõ, sau một đêm mất ngủ
lếch thếch xuống ga với hành lý duy nhất là những chiếc hòm khóa chuông bằng gỗ.
Cả bọn bước ra ga nhìn cảnh những
toà nhà mặt phố và ngơ ngác hỏi nhau:
- Sao
cùng vào đại học Tổng hợp mà mày lại về Lê Thánh Tông còn bọn tao lại về Thượng
Đình nhỉ?
Thôi kệ, chia tay
nhau thôi, khoa Lý về Thượng Đình. Hỏi thăm đường về Thượng Đình, mấy ông xích lô ở sân ga gườm gườm: "Ra Cửa Nam đi xe điện về Hà
Đông, đến ga Cao Xà Lá thì xuống". Lò dò từ
ga ra được Cửa Nam (cũng không xa
lắm), bà con chỉ cứ lên tàu rồi hỏi tiếp.
Chờ ở bến xe điện Cửa Nam được một lúc, thấy một con tàu chạy trên đường ray đến nhưng tàu
mà không có đầu tàu, chỉ
có hai toa, lại
có một cái cần cao nghệu với một anh cầm cái dây ở cuối toa. Lên tàu thầy cũng giống tàu hỏa mình đi, có đủ các
thành phần mọi người ,chỉ có điều tàu đi khá chậm, thỉnh thoảng bác lái tàu lại dậm chân cho chuông kêu
leng keng báo hiệu. Tàu đang đi bỗng có người hét lên: “Có người ngã kìa!” Nhìn ra thấy một cậu choai từ bậc lên xuống của toa đâm bổ mặt xuống đường.Cả bọn đang hoảng thì thấy nhoằng một cái anh
ta đã bật dựng người dậy và
thông thả bước đi như không có chuyện gì xảy ra. Sau này mới biết anh ta đã
vận dụng rất thành thao quy tắc quán tính của ngành vật lý nhà mình để
“nhảy tàu”. Sau này bọn mình
cũng
bắt chước, cũng “nhảy tàu”, nhưng quay mặt xuôi theo hướng tàu chạy, thế là có lần ngã sưng mặt.
Rốt cuộc cũng tha được cái hòm
gỗ tới Ký
túc xá. Lớp Lý K15 được phân
ở nhà B, mấy thằng bạn Toán bên nhà A. Bắt đầu làm quen với các thành viên trong lớp. Đầu tiên có
một anh mặc quần áo bộ đội to to giới thiệu: “Anh là Minh, nguyên bộ đội đặc công nước, có thể bơi 5 cây số không nghỉ, khóa tay nhanh như chớp!” Bọn mình gọi anh là Minh “già” để phân biệt với Minh “mán” và Lê Minh. Lớp còn có Thịnh “mán” vì ở hắn từ Cao
Bằng xuống. Cả
bọn ban
đầu cứ tưởng mán thật,
nhưng Tuấn “loe” bảo: “Mán
gì đâu! chúng nó khôn bỏ bố ra đấy!” Rồi bọn mình thấy có mấy anh cũng là bộ đội, như anh Chỉ, Hiên “cù”, còn có mấy anh rất đẹp trai, đó là các anh Lộ, Hùng, Hiển và anh Long. Các anh đều rất
thân thiện và ngay lập tức trở thành thần tượng
cho
lũ trẻ. Sau đó còn
có các anh bộ đội vẫn
mặc nguyên quân phục
khi lên lớp. Hỏi ra thì
là các anh là bộ đội được cử biệt phái đi học, vui lắm, như các anh Hồng, Dân, Kỷ, Thái mà mình không nhớ hết. Đặc
biệt là còn
có các bạn ở ngoại trú, là dân Hà Nội, hỏi tên thì rất thú vị vì bạn nào cũng có
biệt hiệu kèm theo. Đầu tiên ai mà chả quan tâm đến các bạn nữ trước.
Thấy có một bạn be bé, gầy gầy nhưng lại luôn đi với một bạn to to. Hỏi ra thì đó là Mai “chuột” và Yến “voi”, tiếp là Trung
Chính (Khổ, chỉ vì cái tên rất “đàn ông” ấy mà sau này bị gọi đi bộ đội), Quang, Oanh, Tâm, Dung, Vân.
Lớp chỉ có 8 bạn nữ thôi, khoa tự
nhiên mà! Cánh con trai ngoại trú có Bình “Hàng Buồm” Tuấn, ... Các bạn nội trú thì quen nhanh hơn, nào Cát, Mạnh, Ninh, Đạm, Tốn, Chính
... Ồ, có lẽ sẽ kể dần.
Cuộc đời sinh viên
bắt đầu! Thế mà đã 55 năm trôi qua! Buồn quá, anh Minh, anh Hiên và mấy bạn Phạm Mạnh, Tiến,
Tiện... và đặc biệt có 3 bạn đã anh dũng hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ, là các bạn Phải, Thắng “cua” và Thành “tư bản”.
2. Giảng
đường
Sau những ngày ổn định
tổ chức là bắt đầu những ngày học tập. Trong con mắt của lũ học sinh cấp 3 thời
“chiến tranh phá
hoại” với những lớp học nửa nổi nửa
chìm nối với hào giao thông khi có báo động thì “Giảng đường” là cái gì đó rất
cao và xa lạ. Mà cũng đúng thật vì đó là một toà nhà to, đẹp gọi là Nhà Liên hợp. Khu giảng đường và ký túc xá ở Thượng Đình vốn
là trường Trung cao cơ điện thì phải.
Nhưng buổi học đầu tiên lại diễn ra khác hoàn toàn
so với tưởng tượng. Lớp học trống
trơn không có bàn ghế (được giải thích là chưa kịp trang bị và mấy hôm sau cũng
có bàn ghế thật), cả lũ ngồi xuống sàn nhà nghe giảng. Tuy vậy những ngỡ
ngàng ấy sớm qua đi khi nghe
bài giảng của các thầy. Học sinh phổ thông chỉ quen mỗi tiết học có một nhúm kiến
thức nay nghe các thầy giảng thật say sưa.
Đầu tiên là nghe
bài giảng của thầy Hoàng Phương. Hình như thầy là Chủ nhiệm khoa thì phải.
Sau mỗi bài giảng của thầy,
cả lớp há hốc mồm nghe thầy kể chuyện “ Thằng gù ở nhà thờ
Đức Bà”, cứ như toàn bộ cuốn tiểu thuyết ở trong đầu thầy, không sót chữ nào cả.
Thầy Dũng dạy Toán khi lên lớp chỉ có một mẩu giấy nhỏ mà
không quên bất
cứ công
thức nào,
dãy số nào. Nghe nói thầy yêu một cô rất xinh nhưng gia đình cô không cho lấy vì
gia đình cô theo đạo Thiên chúa. Vì vậy thầy đã học thuộc tất cả các bài kinh về Đức Chúa Lời
đến mức gia đình phải đồng ý gả con gái cho thầy.
Thầy Đồn cực kỳ
uyên bác và hiền hậu, chỉ có điều mỗi khi thầy đi đâu
đó là chỉ một lúc sau đã
thấy vợ thầy, cũng làm ở khoa, đến hỏi “ Các em có thấy anh Đồn ở đâu không?”
Nhớ mãi những buổi
làm thí nghiệm Vật lý của thầy Quýnh nếu vớ phải bài đo trọng lượng bằng cái
cân tiểu ly. Cả
buổi chiều ngồi nhìn cán cân đung đưa tưởng chừng vô tận, không dám thở mạnh vì nếu nó
không dừng lại sẽ không được về.
Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò. Nhưng bọn sinh
viên yêu ghét nhau, thì gán cho nhau đủ thứ “biệt danh” hầm hố, ấn tương, gợi cảm, nào Mán, Loe, Ống nhổ, Già, Khỉ, Voi, Chuột, Cóc,
Cù, Răng vàng, Tư bản, … chứ bao giờ cũng vẫn gọi tên các thầy cô một cách trân
trọng, ngay cả khi ghép tên thầy cô thành một Chuỗi Hội tụ cho dễ nhớ: “Khai
Tiêu Cống Xý, Hùng Dũng Phương Phi, Thỏa Thê, Thích Chí Đồn Đại”.
Còn nhiều thầy cô
khác nữa, thầy cô nào cũng tận tâm vì học trò. Có cảm giác những ngày đó vẫn mới
như hôm qua mà đã hơn 50 năm trôi qua rồi.
3. Những
ngày vui vẻ
Thời gian trôi đi,
mọi việc học hành dần vào nề nếp và đã có thời gian để đi thăm bạn bè và khám
phá xung quanh. Lang thang với nhiều bạn nhưng sao lại chỉ nhớ những lần thăm
những người bạn nay đã đi xa. Có lẽ vì các bạn còn lại gặp nhau thường xuyên rồi. Nhớ tổ
mình được bạn Mai
đưa đến thăm nhà Yến ở phố Bích Câu, tò mò ngắm mãi ngôi nhà cổ. Nhớ những ngày
cả bọn nhảy tàu điện Bờ Hồ - Cầy Giấy xuống ga Kim Mã,
chỗ sứ quán Thụy Điển bây giờ,
rồi đi bộ qua những ruộng rau muống,
rau lấp để
đến nhà Tiến “khỉ” trong làng Ngọc Hà, ngồi chơi đến tối chẳng muốn về.
Chuyện tắm trộm:
Trong trường chỉ có hai nhà tắm “công cộng”, nhà tắm nữ có mái che và cửa ra vào kín mít, nhà tắm
nam là một cái bể ở giữa, xung quang lát xi măng và xây tường bao. Nhà tắm lúc
nào cũng ồn ào tiếng nước chảy, tắm gội và trò chuyện nhưng chỉ là
những ngày hè. Mùa đông rét căm căm mà cũng phải lao ra tắm
thì đúng là cực hình. Có mấy thằng bạn khoa khác rỉ tai bảo
đi “tắm trộm”
bên khu nhà máy Cao-Xà-Lá. Bên đó công nhân sau khi tan ca được tắm nước nóng. Thế là
cả bọn rình vào lúc tan ca đi qua cổng bảo vệ vào khu nhà tắm công nhân để
“tắm trộm”. Thật sung sướng khi vòi nước nóng chảy xối lên người và
tắm xong lại vênh váo đi về giống công nhân. Nhưng chỉ được một thời gian bảo vệ
nhà
máy biết nên
quản chặt không cho sinh viên vào nữa,
thế là đành chịu!
Chuyện bẫy nước: Ngồi
học chẳng có gì giải trí, cả lũ nghĩ ra cách buộc dây vào cái
bát sắt, khép hờ của ra vào và đặt bát đầy nước lên trên
cánh cửa.
Chính “lẹp” là đứa hăng hái nhất. Đặt bẫy xong cả bọn ngồi chờ. Bỗng thấy một bàn tay nhẹ nhàng nâng bát nước lên và khéo léo bước
vào.
Cả bọn ngẩn người ra thì hóa ra
anh Lộ. Anh bảo “Chúng mày làm cái trò mèo này sao qua được mắt anh!”. Thật phục lăn! Lại ngồi rình thì “kẹt” cánh cửa mở ra, bát nước đổ ào xuống và một cái đầu ướt sũng ngó vào trong khi cả bọn
hoan hô rầm rĩ. Bỗng Chính chết lặng thấy đó lại là anh trai mình, hôm ấy đến thăm em! Chính lúng búng giải thích vì bọn nó hay phá bọn em học, thế là anh cũng cho qua. Chán trò lại nghĩ ra cách buộc
dây vào xoong, đổ
nước vào và đu đưa xuống cửa sổ tầng 3 bên dưới, nơi bọn con gái khoa Địa đang ở để
nước hắt vào phòng. Cả bọn đang
khoái chí thì có tiếng gõ cửa, cánh cửa mở ra cùng với tiếng cười ha hả là một xô nước đầy hắt
vào rồi tiếng
bước chân chạy biến mất theo hành lang. Hóa ra bọn con gái khoa Địa lên trả thù. Vụ này làm anh Lộ phục lăn và bảo: “Bọn nó xứng đáng là đối thủ của chúng mày đấy!”
Vụ “Eo ôi thằng Tiệp”: Cạnh trường là bãi pháo phòng không của bộ đội
và cánh đồng lúa mệnh mông kéo dài đến tận Mễ Trì, nơi bọn khoa Văn, Sử ở và học. Ban đêm cánh đồng vắng lặng
thật thích hợp cho các cuộc chuyện trò và tâm sự kín đáo. Nhưng ở đó cũng là
nơi rất nhiều nguy hiểm vì “mìn” rải rác khắp nơi cũng như có bóng những chú đi
giải quyết nỗi buồn. Một tối Tiệp ta lò dò đi ra đấy.
Trong đêm yên tĩnh những tiếng động
nhỏ cũng nghe rất rõ. Bỗng Tiệp nghe tiếng con gái thì
thào: “Eo ôi thằng Tiệp!” Cậu ta đành tháo chạy đi chỗ khác. Tiệp kể với mọi người rằng chắc là một
đôi lớp ta vì họ nhận ra Tiệp. Nhưng đó đã trở thành kỷ niệm rồi, cần gì truy tìm xem đó là ai. Nghe nói cũng còn nhiều đôi nữa nhưng vẫn trong
vòng bí mật. Lại cũng nghe nói có hai bạn dắt nhau ra bãi pháo bắt nhau thề suốt
đời phải yêu thương cô bạn nếu tao nhường cho mày, nếu không tao sẽ giết. Bây
giờ thấy rằng những lời thề độc cũng chẳng có gì ghê gớm vì đến nay cũng chẳng
có chuyện gì xảy ra, cũng như những mối tình sinh viên trong thời chiến lãng mạn thật nhưng ít khi đi
đến đích cuối cùng. Chúc mừng anh Long và bạn Trung Chính, sau này thêm Hải “rù” và Vân nữa.
4. Chiến
tranh
Những ngày đầu
học tập không có tiếng bom ở miền Bắc, nhưng chiến tranh
vẫn hiện hữu cùng với mọi người. Nó hiện hữu qua mỗi buổi phát thanh của trường
về tình hình chiến sự, về bom đạn trong khu 4, nó hiện hữu thông qua cả những
bài hát nghe qua loa như “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, “Nổi lửa lên em”,
“Tiếng đàn Ta Lư” ... như nhắc mọi
người rằng sẽ đến lúc lên đường. Hết năm thứ nhất, các anh Lộ, Hiển, Hùng đã chuyển sang Bách khoa, một
loạt các bạn đã lên đường tháng 9/1971, lớp vắng hẳn đi.
Cả lớp, trừ các anh bộ đội và vài bạn
không thể lên đường, còn tất cả đều chuẩn bị tinh thần đến lượt mình tham gia chiến
đấu.
Kỷ niệm trước khi
lên đường không bao giờ có thể quên, đó là những ngày tháng 4 năm 1972, máy bay
Mỹ ném bom trở lại miền Bắc, đặc biệt là Hải Phòng và Hà Nội. Đêm hôm đó chúng
tôi nhìn về phía bắc thấy kho xăng Đức Giang cháy sáng rực trời.Đêm hôm đó và những đêm sau nữa nhìn qua cửa sổ thầy dòng
người đi bộ, dắt xe đạp, gồng gánh, xích lô, xe ba gác dài tưởng chừng như vô tận
đi về phía Hà Đông sơ tán mới thấy một phần nhỏ cái khốc liệt và tàn bạo của
chiến tranh. Lại tiếp tục có hai đợt “lên đường” nữa, vào tháng 5 và tháng 9 năm 1972 thì phải (bọn mình đi tháng 5
nên không chắc lắm). Sau này trong những đêm dài một mình trực chiến trong căn
hầm nhỏ với cây đèn bão trên trận địa tên lửa giữa cánh đồng vắng lặng mới thấy
nhớ da diết những ngày học tập vui vẻ và mong chiến tranh kết thúc để trở về
trường.
Tháng 9/2025
Đặng Văn Nghĩa

Cám ơn Nghĩa về những dòng ký ức
Trả lờiXóaKết ban hôm nay có điện lưới vì bão đã đọc được bài viết ngắn gọn và cũng khá đầy đủ
Trả lờiXóa